Đóng

Hệ tiêu hóa

Ứng dụng Probiotics trong phòng ngừa và điều trị viêm da dị ứng ở trẻ em

22/03/2023 Future Clinic

Ngày nay, người ta thường đặc biệt chú trọng quan tâm đến mặt lợi của việc bổ sung probiotics trong phòng ngừa và điều trị các bệnh dị ứng ở trẻ em. Tổ chức Thực phẩm và Dược phẩm Liên hợp quốc (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa định nghĩa probiotics là “các vi sinh vật sống khi được cung cấp với số lượng nhất định sẽ mang lại lợi ích sức khỏe cho vật chủ” [1]. Một số probiotics hiện đang có sẵn trên thị trường. Tuy nhiên, không phải tất cả các chủng vi khuẩn đều có thể được sử dụng như probiotics. Probiotic trên thực tế cần có một số đặc điểm cơ bản như: chúng nên có nguồn gốc từ con người, bản chất không gây bệnh và không bị phá hủy bởi quá trình xử lý bên ngoài cũng như bởi mật và acid trong dạ dày, chúng phải có khả năng bám vào niêm mạc ruột, tạo ra chất kháng khuẩn, tạo chất có thể điều hòa phản ứng miễn dịch và có tác động đến các hoạt động trao đổi chất của con người [2]. Nhiều nghiên cứu đã đánh giá tiềm năng hoạt động của các probiotics trong phòng ngừa và điều trị các bệnh ở người, trong đó có các bệnh dị ứng và viêm da dị ứng nói riêng.

TẢI FILE PDF TẠI ĐÂY: Ứng dụng Probiotics trong phòng ngừa và điều trị viêm da dị ứng ở trẻ em – PDF

Personalized precision probiotics (tạm dịch: Chuẩn hóa men vi sinh cá nhân) là liệu pháp nghiên cứu và sử dụng Probiotics – Men vi sinh (hay còn được gọi là chế phẩm sinh học, chất trợ sinh) để điều trị bệnh hoặc cải thiện sức khỏe. Men vi sinh mang lại nhiều lợi ích sức khỏe như cải thiện tiêu hóa, duy trì sức khỏe và chống lại bệnh tật. Men vi sinh chuẩn xác được cá nhân hóa nghĩa là không sử dụng một công thức chung cho tất cả. Mỗi độ tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe nhất định của mỗi người sẽ cần bổ sung men vi sinh khác nhau về số lượng, chủng loại, nhờ đó nâng cao hiệu quả của men vi sinh. Cơ thể của chúng ta có cơ quan hô hấp và cơ quan tiêu hóa tiếp xúc với môi trường bên ngoài liên tục, từ không khí, thực phẩm, nguồn nước… chính vì vậy mà hệ hô hấp và tiêu hóa dễ bị nhiễm độc, mất cân bằng, dẫn tới bệnh tật.

Chính vì vậy, có một sự thật không thể bàn cãi rằng: Khi hệ vi sinh đường ruột khỏe mạnh, cơ thể của bạn sẽ khỏe mạnh, phòng ngừa được bệnh tật và nâng cao tuổi thọ.

Liên hệ với chúng tôi ngay để thiết kế men vi sinh cá nhân dành riêng cho sức khỏe, thể trạng của bạn: 0937 53 45 45

Bệnh viêm da dị ứng ở trẻ em

Viêm da dị ứng (Atopic dermatitis – AD) là một bệnh da khởi phát phổ biến ở trẻ em, nguyên nhân được coi là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa yếu tố di truyền và môi trường, cả hai đều liên quan đến khuynh hướng và sự phát triển của bệnh [3]. Theo quan sát,  đối với các bệnh dị ứng khác, tỷ lệ mắc bệnh viêm da đã tăng gấp đôi đến gấp ba lần trong những thập kỷ qua và hiện tại ước tính là gần 20% ở các nước công nghiệp hóa [3].

Giả thuyết đầu tiên giải thích tỷ lệ mắc bệnh dị ứng ngày càng tăng được gọi là “giả thuyết vệ sinh” cho rằng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng có tỷ lệ nghịch với điều kiện và tiêu chuẩn vệ sinh được kể đến như nơi ở ít tiếp xúc đông người, tiêm phòng định kỳ và sử dụng rộng rãi thuốc kháng sinh đều góp phần làm giảm sự tiếp xúc của trẻ em với mầm bệnh , làm giảm đáp ứng miễn dịch do Th1 điều khiển và ngược lại, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại của đáp ứng miễn dịch qua trung gian Th2 ở trẻ sơ sinh, điều này sau này có thể dẫn đến sự xuất hiện của các bệnh dị ứng.

Phương pháp phòng ngừa và điều trị viêm da dị ứng ở trẻ em

Hiện tại, viêm da dị ứng thường không có cách chữa trị và một khi khởi phát nghiêm trọng sẽ thường ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống hàng ngày, có thể gây khó chịu với thể chất và tinh thần người bệnh. Đối với lâm sàng, khi các cơ sở y tế tiếp nhận những trường hợp viêm da dị ứng các phương pháp làm giảm triệu chứng bệnh và kéo dài thời gian cho hệ miễn dịch tự điều hòa thường được đề xuất giúp bệnh nhân có thể bớt khó chịu. Dưỡng ẩm cho da là phương pháp điều trị phổ biến cho bệnh ở mức độ  nhẹ và là một trong điều trị các ca từ trung bình đến nặng. Ngoài ra, sử dụng thuốc kháng histamin thế hệ thứ nhất trước khi đi ngủ để giúp an thần, cải thiện giấc ngủ và giảm ngứa đôi khi cũng được kết hợp.

Sử dụng corticoid cũng được xem là một liệu pháp kết hợp với hai phương pháp trên trong điều trị cho bệnh nhân bôi corticosteroid tại chỗ hai lần mỗi ngày khi cần thiết, corticosteroid toàn thân hiếm khi cần thiết nhưng tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ và khu vực được điều trị [5]. Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay các phương pháp làm giảm sự khó chịu của bệnh nhân và hỗ trợ điều trị bệnh như đã đề cập còn rất nhiều hạn chế và các tác dụng phụ khác nhau như thuốc kháng histamin có tác dụng phụ gây an thần và lợi ích chưa được hiểu rõ, sự lạm dụng các loại corticoid gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng về sức khỏe người bệnh và gia tăng các đợt bùng phát bệnh.

Bên cạnh đó, nếu như không được áp dụng kịp thời và phối hợp đúng các biện pháp rất có thể tình trạng bệnh có thể tăng lên dẫn đến tình trạng viêm da thứ cấp, nhiễm trùng da, nhiễm khuẩn. Một số nghiên cứu điều trị thay thế sử dụng các loại thuốc hay thảo dược nhằm giảm bớt các tác dụng phụ cũng được đề xuất như thuốc thảo dược Trung Quốc (uống hoặc bôi) nhưng lại mang lại kết quả không hiệu quả. Các chất bổ sung chế độ ăn uống (dầu cá, kẽm, vitamin, và dầu hướng dương) không cho thấy bằng chứng thuyết phục về việc cải thiện viêm da dị ứng, mặc dù những chất bổ sung này có vẻ an toàn [6,7,8]. Những liệu pháp sử dụng thuốc hay thảo dược bằng y học cổ truyền cần được đánh giá nghiên cứu kỹ, và đưa ra đánh giá khách quan cho tác dụng làm giảm cũng như phòng ngừa các bệnh viêm da dị ứng ở trẻ nhỏ.

Probiotic phòng ngừa và điều trị viêm da dị ứng ở trẻ em

Gần đây hơn, một giả thuyết khác đã được đề xuất. Sự kích thích các vi sinh vật của bệnh nhân trong đường ruột và tiếp xúc với hệ vi sinh cộng sinh hay các chủng vi khuẩn cụ thể có thể điều hòa một số phản ứng của hệ thống miễn dịch ngăn sự phát triển của các bệnh dị ứng [9].

Hệ vi sinh phát triển trong giai đoạn sau sinh có liên quan đến việc kích hoạt miễn dịch bẩm sinh và đáp ứng cùng những kích thích liên tục từ hệ vi sinh đang phát triển là cần thiết cho sự trưởng thành của hệ thống miễn dịch niêm mạc ruột. Khi thiếu hoặc không đủ kích thích vi sinh vật kết quả dẫn đến giảm diện tích bề mặt ruột, thay đổi mô hình enzym, hàng rào niêm mạc và hệ thống IgA [10]. Hệ vi sinh đường ruột không cân bằng này làm tăng phản ứng miễn dịch định hướng Th2 ở trẻ sơ sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của bệnh dị ứng. Một số chỉ ra rằng hệ vi sinh đường ruột của trẻ bị dị ứng được gây ra bởi sự gia tăng chi clostridia và giảm sự xâm nhập của bifidobacteria [11].

Nếu hệ vi sinh vật mất cân bằng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh dị ứng, thì probiotics có thể hữu ích vì khả năng cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, khôi phục tính thấm bình thường của ruột, cải thiện chức năng hàng rào miễn dịch của ruột và điều chỉnh giảm quá trình sản xuất các cytokine tiền viêm. Hơn nữa, tác dụng của probiotics đối với các bệnh dị ứng có liên quan đến việc kích thích các thụ thể giống Toll (TLR). Các tế bào biểu mô ruột tạo các thụ thể nhận dạng khác nhau để nhận ra các kháng nguyên vi sinh vật, còn được gọi là các phân tử liên quan đến mầm bệnh (PAMPs). Một lớp của các thụ thể này là TLR, kích thích TLR bằng các PAMP khác nhau tạo ra sự biệt hóa của các tế bào T.

Năm 1997, lần đầu tiên một nhóm tác giả Phần Lan đã chỉ ra sự cải thiện đáng kể ở trẻ viêm da cơ địa sau khi bổ sung probiotics. Kể từ đó, 19 thử nghiệm về điều trị PAD đã được công bố và thậm chí một số phân tích tổng hợp và đánh giá, nhưng kết quả và kết luận hiện tại không thuyết phục lắm. Majamaa và Isolauri [12] đã nghiên cứu một nhóm trẻ sơ sinh bị viêm da dị ứng. Ở 11 trẻ sơ sinh dị ứng bú sữa mẹ, Lactobacillus rhamnosus LGG (LGG) đã được bổ sung cho các bà mẹ. Kết quả của thử nghiệm này cho thấy SCORAD (công cụ đánh giá viêm da dị ứng) được cải thiện đáng kể sau 1 tháng ở nhóm dùng probiotics. Ba năm sau, Isolauri [13] chọn ngẫu nhiên 27 trẻ dị ứng bú mẹ sử dụng sữa whey có LGG/Bifidobacterium lactis Bb-12 hoặc giả dược trong 4 tuần.

Một đánh giá hai tháng sau đó đã chứng minh sự cải thiện đáng kể về SCORAD trong các nhóm sử dụng probiotics. Năm 2005, Weston và cộng sự [14] thí nghiệm trên 53 trẻ em bị AD từ trung bình đến nặng để đánh giá hiệu quả của Lactobacillus fermentum. Kết quả cho thấy việc bổ sung trong 8 tuần có lợi trong việc cải thiện mức độ và mức độ nghiêm trọng của AD. Ngược lại, các thử nghiệm khác tập trung vào việc bổ sung một chủng duy nhất, không xác nhận tác dụng tích cực của probiotics trong điều trị AD. Brouwer [15] thực hiện chọn ngẫu nhiên 50 trẻ sơ sinh bị AD để nhận Lactobacillus rhamnosus/ Lactobacillus GG hoặc giả dược ở sữa whey trong 3 tháng. Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy không có thay đổi đáng kể nào của probiotics đối với SCORAD, độ nhạy cảm, thông số gây viêm hoặc sản xuất cytokine. Trong cùng năm đó, một nhóm nghiên cứu khác đã xác nhận tác dụng không khả quan trong điều trị với các triệu chứng lâm sàng, kết hợp corticosteroid và thuốc kháng histamine tại chỗ, các thông số miễn dịch, sức khỏe của bệnh nhân dùng chủng Lactobacillus rhamnosus GG ở 54 trẻ sơ sinh bị bệnh từ trung bình đến nặng.

Mặc dù có nhiều dữ liệu, các bài đánh giá, phân tích tổng hợp được xuất bản nhưng không làm rõ vai trò của probiotics trong điều trị viêm da dị ứng ở trẻ em. Phần lớn các đánh giá này kết luận rằng không có đủ bằng chứng để khuyến khích sử dụng probiotics để điều trị AD ở trẻ em [10]. Đa số các nghiên cứu tập trung vào trẻ em có nguy cơ dị ứng cao, probiotics sử dụng trước sinh 2–4 tuần cho phụ nữ mang thai và sau khi sinh cho trẻ trong 6–12 tháng. Chủng lợi khuẩn được nghiên cứu nhiều nhất là LGG. Michail cộng sự [16] cùng Kalliomäki và cộng sự [17] lần đầu đánh giá hiệu quả ngừa bệnh của LGG trong thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên ở một nhóm gồm 132 trẻ có nguy cơ dị ứng cao.

Theo dõi sau hai năm, tần suất AD ở trẻ được bổ sung probiotics giảm một nửa so với nhóm sử dụng giả dược. Nghiên cứu tương tự cùng một nhóm trẻ sơ sinh từ 4 đến 7 năm sau để xem xét tác dụng bảo vệ của probiotics chống lại sự phát triển của AD [18]. Tác dụng phòng ngừa của LGG đối với AD cũng đã được chứng minh bởi Rautava vào năm 2002 người ta đã đánh giá hiệu quả với 57 trẻ em có nguy cơ cao mắc bệnh được bú các bà mẹ bổ sung chủng LGG. Ở nhóm được bổ sung, nguy cơ phát bệnh là 15%, trong khi ở nhóm giả dược là 47% [19]. Một công bố năm 2008 đã so sánh hiệu quả của hai chủng vi khuẩn khác nhau, L. rhamnosusBifidobacterium animalissub sp., trong việc ngăn ngừa ở trẻ em. Khi được hai tuổi, chỉ có L. rhamnosus cho thấy hiệu quả, trong khi không có tác dụng nào được chứng minh đối với B. animalis. Nguyên nhân của sự không đồng nhất trong kết quả có thể là do thiết kế nghiên cứu, thể trạng khác nhau của bệnh nhân (số lượng, tuổi, mức độ nghiêm trọng của bệnh, nhạy cảm với chất gây dị ứng, sự hiện diện của các bệnh dị ứng khác), liều lượng men vi sinh, thời gian bổ sung, sử dụng một chủng hoặc hỗn hợp và thời gian theo dõi là những lời giải thích có thể thích hợp nhất.

Như vậy, với những bệnh nhân có tiềm năng bị ảnh hưởng cuộc sống bởi bệnh dị ứng, phòng ngừa bệnh ở mỗi đợt khởi phát là rất quan trọng. Các hướng hiện đại thường sử dụng các biện pháp phòng ngừa nhằm kiểm soát nhiễm trùng và viêm nhiễm. Tuy nhiên, như đã đề cập, việc kiểm soát có thể khó kéo dài và không loại bỏ hoàn toàn được nguy cơ nhiễm bệnh cũng như ảnh hưởng tác dụng phụ từ thuốc. Nhiều nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả tiềm năng của probiotics trong việc phòng ngừa các bệnh dị ứng nói chung và AD nói riêng, cho thấy các kết quả khả quan. Ngoài ra, các thử nghiệm rất phức tạp do xu hướng thay đổi của AD theo thời gian. Vì vậy, trước khi có khuyến nghị sử dụng probiotics trong viêm da dị ứng ở trẻ em cần quy mô lớn hơn và hướng dẫn rõ ràng để xác định việc sử dụng các chủng lợi khuẩn trong các thử nghiệm lâm sàng.

Nguồn tham khảo:

  1. FAO/WHO working group. “Guidelines for the evaluation of probiotics in food.” FAO/WHO Working Group (2002): 1-11.
  2. Dunne, C., L. O’Mahony, L. Murphy, G. Thornton, and D. Morrissey. “O’Halloran.” Feeney M., Flynn S., Fitzgerald G., Daly C., Kiely B., O’Sullivan G., Shanahan F., Collins JK (2001).
  3. Boguniewicz, Mark, and Donald YM Leung. “Atopic dermatitis: a disease of altered skin barrier and immune dysregulation.” Immunological reviews 242, no. 1 (2011): 233-246.
  4. Williams, Hywel, Colin Robertson, Alistair Stewart, Nadia Aït-Khaled, Gabriel Anabwani, Ross Anderson, Innes Asher et al. “Worldwide variations in the prevalence of symptoms of atopic eczema in the International Study of Asthma and Allergies in Childhood.” Journal of allergy and clinical immunology 103, no. 1 (1999): 125-138.
  5. Galli, Elena, Iria Neri, Giampaolo Ricci, Ermanno Baldo, Maurizio Barone, Anna Belloni Fortina, Roberto Bernardini et al. “Consensus conference on clinical management of pediatric atopic dermatitis.” Italian journal of pediatrics 42, no. 1 (2016): 1-25.
  6. Gu, Sherman, Angela WH Yang, Charlie CL Xue, Chun G. Li, Carmen Pang, Weiya Zhang, and Hywel C. Williams. “Chinese herbal medicine for atopic eczema.” Cochrane Database of Systematic Reviews 9 (2013).
  7. Bath‐Hextall, Fiona J., Claire Jenkinson, Rosemary Humphreys, and Hywel C. Williams. “Dietary supplements for established atopic eczema.” Cochrane Database of Systematic Reviews 2 (2012).
  8. Bamford, Joel TM, Sujoy Ray, Alfred Musekiwa, Christel van Gool, Rosemary Humphreys, and Edzard Ernst. “Oral evening primrose oil and borage oil for eczema.” Cochrane Database of Systematic Reviews 4 (2013).
  9. Björkstén, Bengt. “The intrauterine and postnatal environments.” Journal of allergy and clinical immunology 104, no. 6 (1999): 1119-1127.
  10. Meneghin, Fabio, Valentina Fabiano, Chiara Mameli, and Gian Vincenzo Zuccotti. “Probiotics and atopic dermatitis in children.” Pharmaceuticals 5, no. 7 (2012): 727-744.
  11. Björkstén, Bengt, Epp Sepp, Kaja Julge, Tiia Voor, and Marika Mikelsaar. “Allergy development and the intestinal microflora during the first year of life.” Journal of allergy and clinical immunology 108, no. 4 (2001): 516-520.
  12. Majamaa, Heli, and Erika Isolauri. “Probiotics: a novel approach in the management of food allergy.” Journal of Allergy and Clinical Immunology 99, no. 2 (1997): 179-185.
  13. Isolauri, E. T. Y. E. S., Taina Arvola, Yelda Sütas, Eeva Moilanen, and Seppo Salminen. “Probiotics in the management of atopic eczema.” Clinical & Experimental Allergy 30, no. 11 (2000): 1605-1610.
  14. Weston, Stephanie, Anne Halbert, Peter Richmond, and Susan L. Prescott. “Effects of probiotics on atopic dermatitis: a randomised controlled trial.” Archives of disease in childhood 90, no. 9 (2005): 892-897.
  15. Brouwer, M. L., S. A. A. Wolt‐Plompen, A. E. J. Dubois, S. Van Der Heide, D. F. Jansen, M. A. Hoijer, H. F. Kauffman, and E. J. Duiverman. “No effects of probiotics on atopic dermatitis in infancy: a randomized placebo‐controlled trial.” Clinical & Experimental Allergy 36, no. 7 (2006): 899-906.
  16. Michail, Sonia K., Adrienne Stolfi, Thomas Johnson, and Gary M. Onady. “Efficacy of probiotics in the treatment of pediatric atopic dermatitis: a meta-analysis of randomized controlled trials.” Annals of Allergy, Asthma & Immunology 101, no. 5 (2008): 508-516.
  17. Kalliomäki, Marko, Seppo Salminen, Heikki Arvilommi, Pentti Kero, Pertti Koskinen, and Erika Isolauri. “Probiotics in primary prevention of atopic disease: a randomised placebo-controlled trial.” The Lancet 357, no. 9262 (2001): 1076-1079.
  18. Kalliomäki, Marko, Seppo Salminen, Tuija Poussa, and Erika Isolauri. “Probiotics during the first 7 years of life: a cumulative risk reduction of eczema in a randomized, placebo-controlled trial.” Journal of Allergy and Clinical Immunology 119, no. 4 (2007): 1019-1021.
  19. Rautava, Samuli, Marko Kalliomäki, and Erika Isolauri. “Probiotics during pregnancy and breast-feeding might confer immunomodulatory protection against atopic disease in the infant.” Journal of allergy and clinical immunology 109, no. 1 (2002): 119-121.
Hotline: 0938575594
Đặt lịch với bác sĩ
[contact-form-7 404 "Not Found"]